Sản xuất Nước đá tinh khiết tại TPHCM

I. LẬP LUẬN KINH TẾ VÀ CHỌN VỊ TRÍ XÂY DỰNG PHÂN XƯỞNG

Ở khu vực phía nam của nước Việt Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh là nơi có số dân phân bố đông nhất. Bên cạnh đó Thành Phố Hồ Chí Minh còn là nơi tập trung nhiều ngành khoa học kỹ thuật và dịch vụ trong nước và quốc tế. Vì thế nhu cầu của con người và thực phẩm, sinh hoạt, dịch vụ ngày một gia tăng.

Với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm quanh năm hầu như không có mùa đông. Người dân ở đây có nhu cầu giải khát rất lớn. Thị trường nước giải khát tràn ngập Thành Phố Hồ Chí Minh với các sản phẩm : Cocacola, Pepsi,tripeco… và các loại khác như : Bia Sài Gòn (Việt Nam), Heineken, Tiger. Tất cả những loại nước giải khát trên được người dân sử dụng với nước đá. Do vậy nước đá có vai trò rất quan trọng trong nhu cầu giải khát. Cứ tính bình quân lượng nước đá sử dụng cho một người trong một ngày là 100 gram thì với số dân 5 triệu, Thành Phố Hồ Chí Minh sẽ tiêu thụ hơn 500 tấn nước đá trong một ngày. Con số này quả thật rất lớn so với phần cung nước đá hiện nay ở thành phố.

Chính vì thế việc xây dựng một phân xưởng sản xuất nước đá tinh khiết ở Thành Phố Hồ Chí Minh thích hợp đáp ứng nhu cầu người dân thành phố cả về số lượng lẫn chất lượng, hơn nữa nước đá tinh khiết bảo đảm vệ sinh cho người sử dụng, bảo đảm sức khoẻ người dân. Chắc chắn dần sẽ thay thế nước đá cây, và chiếm lĩnh thị trường thành phố.

Quận Tân Bình là nơi có địa hình rộng lớn, nhiều khu công nghiệp được xây dựng ở đây. Mặt bằng rẻ so với các quận khác ở thành phố. Có các đặc điểm sau :

- Vị trí địa lí : nằm hướng Bắc thành phố Hồ Chí Minh. Địa hình bằng phẳng, giáp ranh với quận 6, quận 10, quận 11, quận Phú Nhuận, huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn, quận Gò Vấp.

- Khí hậu : khí hậu thành phố Hồ Chí Minh nói chung, quận Tân Bình nói riêng, đều mang khí hậu nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 – 5 đến tháng 10 – 11. Lượng mưa bình quân 2000 ml/năm.

+ Nhiệt độ trung bình 270C.

+ Nhiệt độ tối đa 400C.

+ Nhiệt độ thấp nhất 15,80C.

- Giao thông vận tải : Do quận Tân Bình nằm gần cử ngõ thành phố, nên có những nút giao thông quan trọng.

+ Bến xe Tây Ninh.

+ Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất.

Giao thông thuận tiện với những đại lộ Hoàng Văn Thụ, Cách Mạng Tháng Tám, Lý Thừơng Kiệt, Au Cơ, phân bố vào các quận giáp biên và 2 trung tâm thành phố.

Qua những lập luận trên cho thấy quận Tân Bình là nơi tốt nhất để xây dựng phân xưởng sản xuất nước đá tinh khiết có hiệu quả kinh tế cao.


II. MẶT BẰNG PHÂN XƯỞNG

Do vị trí xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh. Phân xưởng sản xuất nước đá, cần biết tận dụng tối đa các mặt bằng cho phép. Điều này không nằm ngoài mục đích giảm chi phí ban đầu. Mặc dù việc dự trữ đất để mở rộng phát triển mở rộng phân xưởng là điều cần thiết nhưng điều ấy chỉ phù hợp với những nơi có mặt bằng rộng lớn, giá rẻ. Ở đây phân xưởng sản xuất nước đá đang thiết kế được xây dựng với tổng diện tích dự toán là : 42*33 = 1386 m2. Bao gồm các bộ phận : Phòng hành chánh, phòng kỹ thuật, phòng máy, khu xử lý nước, phòng làm đá, kho trữ đá và khoảng sân để xe vào và ra trong quá trình xuất hàng từ kho.

Toàn bộ khu vực sản xuất và điều hành sản xuất được xây dựng trên mặt bằng chữ L, bộ phận lọc nước chiếm 80 m2 , phòng máy chiếm 140 m2 , phòng trữ đá chiếm 30 m2 và khu hành chánh chiếm 80 m2 . Ngoài ra còn có phòng bảo vệ và trạm biến điện, phòng vệ sinh.Do vị trí xây dựng ở thành phố Hồ Chí Minh. Phân xưởng sản xuất nước đá, cần biết tận dụng tối đa các mặt bằng cho phép. Điều này không nằm ngoài mục đích giảm chi phí ban đầu. Mặc dù việc dự trữ đất để mở rộng phát triển mở rộng phân xưởng là điều cần thiết nhưng điều ấy chỉ phù hợp với những nơi có mặt bằng rộng lớn, giá rẻ. Ở đây phân xưởng sản xuất nước đá đang thiết kế được xây dựng với tổng diện tích dự toán là : 42*33 = 1386 m2. Bao gồm các bộ phận : Phòng hành chánh, phòng kỹ thuật, phòng máy, khu xử lý nước, phòng làm đá, kho trữ đá và khoảng sân để xe vào và ra trong quá trình xuất hàng từ kho.

Toàn bộ khu vực sản xuất và điều hành sản xuất được xây dựng trên mặt bằng chữ L, bộ phận lọc nước chiếm 80 m2 , phòng máy chiếm 140 m2 , phòng trữ đá chiếm 30 m2 và khu hành chánh chiếm 80 m2 . Ngoài ra còn có phòng bảo vệ và trạm biến điện, phòng vệ sinh.


III. SO SÁNH CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĐÁ HIỆN NAY

Hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh ngành sản xuất nước đá đã được nhà nước và tư nhân quan tâm.

Nước đá Phát Anh Tiến là công ty sản xuất và phân phối nước đá của VN chuyên về các dịch vụ và sản phẩm liên quan đến nước đá.

Chúng tôi sản xuất nước đá, làm lạnh thức uống của bạn năm 1995. Chúng tôi đặt ưu tiên hàng đầu là cung cấp các sản phẩm nước đá tốt nhất, sản xuất và phân phối nước đá của riêng mình. Nước đá được lọc và kiểm tra vi sinh để đảm bảo bạn nhận được sản phẩm chất lượng cao nhất hiện có.

Chúng tôi là một công ty mạnh và ổn định với bề dày thành tích đã được chứng minh trong việc cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho cộng đồng, cung cấp sản phẩm nước đá tinh khiết chất lượng và dịch vụ giao hàng tận nhà hạng nhất cho khách hàng. Chúng tôi cung cấp tại các cơ sở kinh doanh nước đá dùng liền, nhà hàng, khách sạn tại TP. HCM. Tại nước đá Phát Anh Tiến, chúng tôi biết bạn không chỉ cần nước đá, đó là lý do tại sao chúng tôi hướng tới mục tiêu không chỉ là một công ty nước đá. Chúng tôi biết khách hàng của mình muốn những sản phẩm nước đá tốt nhất, cũng như dịch vụ khách hàng, phân phối nước đá, hậu cần và thiết bị. Đó là lý do tại sao chúng tôi cung cấp một loạt các dịch vụ khác nhau để đáp ứng mọi nhu cầu của bạn. Cam kết về dịch vụ cung cấp nước đá và vận chuyển nước đá bền vững này là lý do tại sao chúng tôi là một trong những thương hiệu nước đá hàng đầu của Việt Nam về sản xuất và phân phối.

CÔNG TY TNHH SX TM DV PHÁT ANH TIẾN

- Trụ sở chính: 280/41 Cách Mạng Tháng 8, Phường 10, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

- Văn Phòng đại diện: 434 Ngô Gia Tự, Phường 04, Quận 10, TP Hồ Chí Minh.

- Mã số doanh nghiệp: 0303518175

CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH SẢN XUẤT THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ PHÁT ANH TIẾN-XƯỞNG SẢN XUẤT PHÁT ANH TIẾN

- Mã số thuế: 0303518175-001

- Địa chỉ: 66/4B Tổ 24,ấp Xuân Thới Đông, Xã Tân Xuân, Huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh.

CHỨNG NHẬN

- Số giấy chứng nhận: 1313/2019/ATTP-CNĐK.

- Nơi cấp: ban quản lý an toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh.

- QCVN 10:2011/BYT: Quy Chuẩn Kỹ Thuật Quốc Gia Đối Với Nước Đá Dùng Liền.


IV. Một số loại nước đá

Nước đá thực phẩm là nước đá làm từ nước đảm bảo tiêu chuẩn thực phẩm về tạp chất, về vi khuẩn, đặc biệt vi khuẩn đường ruột.

Nước đá khử trùng là nước đá được sản xuất từ nước đã được khử trùng bằng hóa chất như hypoclorit, canxi, nitrat natri … Nước đá khử trùng dùng chủ yếu trong công nghiệp hoặc trên các tàu đánh bắt cá xa bờ để chuyên chở và bảo quản cá tươi.

Nước đá từ nước biển được sản xuất từ nước biển có nồng độ cao, chủ yếu sử dụng trong công nghiệp cá để chuyên chở và bảo quản cá tươi khi đánh bắt xa bờ. Nhờ độ mặn cao nên nhiệt độ nóng chảy thấp hơn 00C nên chất lượng bảo quản cá cao hơn và thời hạn bảo quản kéo dài có khi đến 2 - 3 ngày.


2.3. Một số phương pháp sản xuất nước đá

2.3.1. Bể nước đá khối

Bể nước muối được chia làm hai ngăn, ngăn lớn được bố trí các khuôn đá còn ngăn nhỏ để bố trí các dàn bay hơi làm lạnh nước muối. Trong bể có bố trí một bơm nước muối tuần hoàn mạnh từ dàn bay hơi ra làm lạnh khuôn rồi lại quay lại dàn bay hơi. Dàn bay hơi kiểu ống đứng hoặc kiểu xương cá có khả năng tăng khả năng trao đổi nhiệt lên đáng kể. Các khuôn đá được ghép lại với nhau thành các linh đá suốt chiều ngang của bể thường từ 10 đến 15 khuôn. Các linh đá không phải đứng im trong bể mà chuyển động từ đầu này đến đầu kia của bể nhờ cơ cấu chuyển động xích. Khi một linh đá đã kết đông xong và được nhắc ra khỏi bể thì cơ cấu xích chuyển động dồn tất cả các linh đá chừa ra phần cuối bể một khoảng hở vừa đủ để đặt linh đá đã đổ đầy nước mới vào. Chuyển động giữa nước muối tuần hoàn và linh đá là ngược chiều .

Khi đá đã kết đông trong khuôn, toàn bộ lênh đá được cầu trục nâng ra khỏi bể và thả vào bể làm tan giá. Các khuôn đá nóng lên , lớp băng dính khối với khuôn tan ra , cầu trục sẽ nâng linh lên và đặt vào cơ cấu lật . Do trọng lực, linh đá lật các khối đá ra và các khối đá trượt lên bàn trượt đá để vào kho chứa đá, còn linh đá được cầu trục đưa đến máng rót nước. Máng rót nước tự động nhiều vòi có định lượng rót đồng thời cho tất cả các khuôn đá lượng nước đã định trước. Sau khi rót nước xong linh đá được đặt vào đầu bể vị trí mà cơ cấu xích vừa đẩy toàn bộ các linh đá dịch ra.

Máy lạnh phục vụ cho bể nước muối thường là máy lạnh amoniac một cấp , thiết bị ngưng tụ là bình ngưng ống chùm , dàn ngưng tụ bay hơi hay dàn tưới .Nước muối được sử dụng thường là NaCl hoặc CaCl2, đôi khi là MgCl2.


2.3.2. Sản xuất nước đá trong suốt

Ngoài tiêu chuẩn về nước, muốn sản xuất nước đá trong suốt cần phải khuấy để cặn bẩn và bọt khí bám trên bề mặt hình thành đá tách ra. Có 3 phương pháp khuấy bề mặt kết đông đá để sản xuất đá trong suốt.

Phương pháp áp thấp là sử dụng khí nén ở áp suất 0,2 đến 0,25 bar áp suất dư, thổi vào giữa khuôn và khi đá đông gần đến giữa khuôn phải rút ống phun khí ra. Khi đầu ống bị đống băng phải dùng nước nóng hoặc hơi phun vào để nhổ ống ra.

Phương pháp áp cao là sử dụng khí nén ở áp suất cao từ 1,5 đến 2 bar áp suất dư. Sử dụng phương pháp này người ta khắc phục được nhược điểm là phải rút ống phun ra kịp thời của phương pháp áp thấp. Tuy nhiên do phải thổi khí vào từ đáy khuôn lên nên ở đây lại xuất hiện nhược điểm là mũi phun nằm trong nước muối rất dể tắc do nước ẩm trong khí nén đóng băng bịt kín. Do đó khí nén áp cao phải được khử ẩm triệt để.

Phương pháp thứ 3 tương đối đơn giản là dùng một que gổ khuấy. Các cơ cấu khuấy được bố trí cho tất cả các khuôn của một linh đá. Hai đầu được lắp vào hai que lắc truyền động từ một cơ cấu lắc. Khi đá kết đông gần đến tâm thì cơ cấu lắc phải được lấy ra khỏi khuôn đá để không bị đóng băng vào khuôn đá . Khoảng nước đá còn lại ở tâm là nước đá đục. Có thể cải thiện lượng nước đá này bằng cách tháo lượng nước còn lại đó ra và thay vào lượng nước sạch mới.


1. Nước đá tấm:

Nước đá tấm là loại nước đá khối có kích thước dài 3 - 4m, cao 2 - 2,5m, dày 0,25 - 0,35m, nặng 3 - 4 tấn. Ưu điểm là có thể bảo quản lâu, khó tan.

Nước đá tấm được sản xuất trong một khuôn kiểu tấm có chiều dài, rộng và cao tương tự kích thước tấm đá cần sản xuất. Chung quanh là áo nước muối bố trí kiểu hai vỏ. Khuôn sẽ được đổ đầy nước và được kết đông thành tấm nước đá nhờ nước muối lạnh đi phía vỏ . Sau khi tâm tấm kết đông kết đông lại với nhau thành tấm nước đá liền thì người ta cho nước muối nóng vào để làm tan giá và tấm đá được cẩu ra ngoài.

Có thể bố trí môi chất lạnh sôi trực tiếp trong không gian giữa hai vỏ. Khi làm tan đá phải dùng hơi nóng tương tự khi phá băng cho dàn lạnh.


2. Phương pháp Vilbushevich (phương pháp làm đông đá trực tiếp)

Đây là phương pháp sản xuất nước đá khối nhanh, sử dụng môi chất lạnh sôi trực tiếp, rút ngắn đáng kể thời gian kết đông đá bằng cách bố trí một hoặc nhiều ống hai vỏ có môi chất lạnh sôi trực tiếp bên trong khối đá cần đông. Khi làm tan giá , người ta phải tháo toàn bộ môi chất lỏng vào một bình chứa đặt thấp hơn , sau đó cho hơi nóng vào làm tan lớp băng dính vào khuôn . Với sức nặng của mình , cây đá tự mở nắp và rơi xuống bàn trượt phía dưới để đi vào kho chứa đá . Nếu bố trí các cơ cấu thổi không khí , người ta vẫn có thể sản xuất nước đá trong suốt với phương pháp sản xuất nước đá nhanh này .

Khi sử dụng phương pháp này thì thời gian đông đá giảm xuống đáng kể . Cây đá 25 kg chỉ cần 2- 3h là kết đông xong , trong khi đó đối với bể nước muối phải mất 15h.


3.Phương pháp Fechner và Grasso:

Fechner: Các khuôn đá hình trụ được cố định trong bể nước được làm lạnh trực tiếp bằng môi chất lạnh. Đá được kết đông trên bề mặt khuôn hình trục. Phía dưới khuôn bố trí các vòi phun không khí để sản xuất đá trong suốt. Khi khối đá đủ dày người ta ngưng cấp lỏng cho khuôn và chuyển sang chế độ làm tan giá, cây đá tự nổi lên phía trên như “tên lửa”.

Grasso: Thay bằng các khuôn hình trụ hai vỏ ở trên, Grasso chỉ làm các ống hai vỏ ở đáy bể nước. Các ống này tập trung lại thành từng nhóm, nước đá sẽ đóng băng trên bề mặt ống. Khi các khối băng đông kết lại với nhau thành cây đá thì quá trình kết đông kết thúc chuyển qua quá trình làm tan giá bằng hơi nóng. Cây đá sẽ nổi lên trên. Do không có khuôn bên ngoài nên cây đá không có hình dáng cố định và cũng không bằng.


Các biện pháp xử lý nước

Để đảm bảo chất lượng nước đá làm bằng nước có tạp chất lớn, nên tăng cường độ chuyển động của nước lên 2 ¸ 3 lần, nâng nhiệt độ đóng băng lên –6 đến -80C, tốt nhất là làm sạch bằng phương pháp kết tinh chậm ở –20C đến –40C.

Nếu không thực hiện được các biện pháp trên thì có thể làm mềm nước: tách Cacbonnat canxi, Magze, sắt, nhôm ra khỏi nước bằng vôi là quá trình hóa học giản đơn. Ví dụ như đối với canxi:

Ca(OH)2 + Ca(HCO3) = 2CaCO3 + 2H2O.

Khi đó các chất hữu cơ sẽ đọng lại cùng với hợp chất cacbonat. Sau đó nước đã được gia công bằng vôi, được lọc qua cát thạch anh. Đến đây nước đã đảm bảo các chỉ số chung, nhưng còn chứa sắt. Trước khi lọc cần bổ sung thêm một ít vôi nữa. Khi cho nước ngậm khí, sắt thường kết hợp với CO2 tạo thành cặn và dể dàng bị tách ra.

Có thể lọc nước dể dàng bằng cát thạch anh hay bằng nhôm sunfat. Phương pháp này không những đảm bảo làm mềm nước tích tụ các chất hữu cơ và vôi mà còn chuyển hóa bicasbonat thành sunfat, kết quả là giảm được tính dòn và do đó có thể hạ được nhiệt độ đóng băng. Như vậy cần giữ độ pH trong nước ở mức 7 để giảm tính dòn của nước đá.


Các loại thiết bị làm đá


1. Máy làm đá mảnh của Short và Raver

Máy gồm hai hình trụ hai võ đứng, môi chất lạnh sôi ở trong, bên ngoài cách nhiệt, bên trên có bố trí bể nước và có vòi cho nước chảy đều lên bề mặt trong của hình trụ. Gặp lạnh nước đóng băng lại và được hai lưỡi bào có răng cưa nạo ra khỏi bề mặt hình trụ khi hai lưỡi bào này quay. Đá mãnh được thu ở phía dưới còn nước thừa được bơm trở lại bể trên cao. Hiện nay phương pháp này được sử dụng rộng rãi vì chúng rất kinh tế. Máy hiện đại được cải tiến chút ít ví dụ trục quay ở giữa chỉ mang một dao cắt còn phía đối diện là vòi phun nước. Nước phun đóng băng quay khi gặp bề mặt lạnh và được dao nạo ra. Do nước đá có nhiệt độ rất thấp nên nó bóc ra khỏi tang trống rất dể dàng, chúng rất dòn và có khả năng bảo quản lâu.


2. Máy làm đá tuyết Pak-Ice của Taylor

Máy bao gồm một tang trống, hai đầu có hai nắp và phía ngoài có môi chất lạnh sôi, bên trong có hai lưỡi dao nạo quay với tốc độ 250 v/ph để nạo đá hình thành trên tang trống. Để tăng bề mặt trao đổi nhiệt phía nước người ta tạo các đường dích dắc. Nước sẽ được cấp vào một nắp và hỗn hợp nước và đá vụn ra phía nắp kia. Để nạo được toàn bộ đá hình thành trên bề mặt trong của tang trống, tất nhiên hai lưỡi dao nạo cũng phải có hình dích dắc tương ứng với bề mặt trong của tang trống. Hỗn hợp nước và đá vụn được đưa qua một lưới lọc để lọc lấy đá còn nước lại được đưa trở lại máy. Nước cấp cho máy phải có nhiệt độ gần 00C nên phải được làm lạnh sơ bộ trước. Loại đá tuyết này thường chỉ sử dụng để làm lạnh trực tiếp chất lỏng. Để bảo quản, vận chuyển và sử dụng dể dàng hơn, Taylor đã phát minh thêm một loại máy ép viên đá tuyết thành các cục đá dạng quả bàng loại 230 (g) và 450 (g).


3. Máy đá cở nhỏ

Các loại máy đá cở nhỏ vài chục kg đến vài trăm kg đá/24h thường là các loại máy đá hoàn toàn tự động, sản xuất đá cục trong khay hoặc đá mãnh. Các loại máy này rất cần thiết phục vụ cho các quán hàng giải khác, quán ăn nhà hàng, khách sạn, cho mục đích tiêu dùng ,phục vụ đời sống, y tế, các bệnh viện và trong cả các xí nghiệp

Một phần nhu cầu này đã được đáp ứng bằng các tủ lạnh gia đình, tủ lạnh thương nghiệp nhưng nhu cầu đối với các máy đá vẫn rất lớn, chính vì vậy đã có nhiều cơ sở sản xuất máy đá, tủ đá nhỏ chuyên dùng. Hình dưới mô tả một tủ đá chuyên dùng để sản xuất các khay đá nhỏ. Đây là dạng tủ đá đơn giản nhất. Các giá đặt khay đều là dàn bay hơi kiểu tấm hoặc tấm có ống bay hơi đặt phía dưới để thu nhiệt của khay qua sự truyền nhiệt trực tiếp từ khay sang tấm đở đến dàn .

Ngày nay, các loại máy đá công suất nhỏ rất phong phú và đa dạng đặc biệt ở Mỹ . Các máy này làm việc theo hai phương pháp liên tục và chu kì . Máy làm việc theo phương pháp liên tục chủ yếu là sản xuất đá mãnh, nguyên lí làm việc là cho nước chảy trên bề mặt ngoài hoặc bề mặt trong một ống bay hơi hình trụ. Đá hình thành trên đó được một dao nạo kiểu trục vít hoặc cánh quay nạo ra khỏi bề mặt bay hơi, và đẩy vào thung chứa.


4. Máy làm đá viên

Có rất nhiều kiểu máy làm đá viên (ống) khác nhau như của Vogt (Mỹ), Linde (Đức), Escher-Wyss (Mỹ), Astra (Đức), Trépaud (Pháp), Doelz (Đức). Tất cả chúng đều có chung nguyên lý là làm việc theo chu kỳ, kết đông đá trong các ống, môi chất lạnh sôi trực tiếp bên ngoài ống, khi đã kết đông đến chiều dày cần thiết, đổi sang chu kỳ tan giá, các ống đá rơi xuống và được dao cắt ra từng thỏi đá rộng f = 30 đến 50 mm dài 50 đến 100 mm.

Máy làm đá ống Vogt (Mĩ) có cấu tạo như sau. Máy gồm một bình hình trụ đứng, bên trong bố trí nhiều ống làm đá (kết cấu tương tự bình ngưng ống võ đứng), bên trên là thùng nước có bộ phận phân phối nước cho nước chảy đều lên bề mặt của ống. Phía dưới có thùng hứng nước thừa không kết đông được thành đá. Khi độ dày ống đạt 10 - 15mm thì kết thúc quá trình làm đá để chuyển sang quá trình tan giá.

Ở quá trình tan giá, người ta dùng bơm nước, đóng van cấp lỏng và đường hút sau đó mở van hơi nóng 10 cho hơi nóng tràn vào, đẩy lỏng vào bình chứa thu hồi 6 và làm tan lớp băng của các ống đá. Các ống đá rơi xuống và được dao cắt ra theo độ dài yêu cầu. Sau đó quá trình làm đá lại bắt đầu. Lỏng từ bình 6 được đưa về dàn ống, van cấp lỏng và van hút mở, bơm nước hoạt động trở lại.

Thời gian làm đá tùy theo độ dày đá, nhiệt độ bay hơi, còn thời gian tan đá khoảng 2 phút và độ dày tổn thất khi tan giá là 0,5mm.

Để giảm tổn thất khi tan giá các ống khuôn giá phải có kích thước đồng đều, nhẳn, thẳng ở phía trong ống.

Để phân phối nước đều trong các ống phía bên đầu ống ta bố trí các nút đậy có các ren xung quanh.

Để đá không bị gãy vụn khi cắt ra từng thỏi, ta dùng dao cắt gồm hai hình bán nguyệt và quay tròn theo hướng vuông góc vói trục của máy làm đá.

Vì làm lạnh trực tiếp nên cần lượng môi chất nhiều nên sử dụng NH3 vì nó rẻ, để tìm.


Ưu nhược điểm của máy làm đá dạng viên

Ưu: Thiết bị nhỏ gọn, thời gian làm đá nhanh. Do làm lạnh trực tiếp nên ít bị tổn thất lạnh, thiết bị ít bị hao mòn. Sản phẩm làm ra sạch, dể sử dụng trong sinh hoạt nên rất được ưa chuộng. Thiết bị tự động hóa tuần hoàn nên không sử dụng công nhân nhiều.

Nhược: Thiết bị đắt tiền, sản phẩm làm ra giá thành cao nên khó tiêu thụ. Sản phẩm làm ra phải sử dụng ngay, không bảo quản lâu được vì chúng dể bị kết nối vào bị hao tốn nhiều. Nếu dao không được thiết kế hoàn hảo dể gây vụn vở đá.

( Theo Trần Văn Nghệ - NCS)

 

Được thành lập từ năm 1995, Công ty TNHH SX TM DV Phát Anh Tiến là nhà sản xuất nước đá hàng đầu Việt Nam, thương hiệu nước đá bán chạy tại TP. Hồ Chí Minh với các sản phẩm Nước đá cây và Nước đá viên tinh khiết.

Công ty TNHH SX TM DV Phát Anh Tiến
Công ty TNHH SX TM DV Phát Anh Tiến

Đá cây - Nước đá Phát Anh Tiến